Friday, 18/10/2019 - 23:41|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Dữu Lâu

NGUYÊN TIÊU (RẰM THÁNG GIÊNG) – HỒ CHÍ MINH

Những nhà ngữ âm học chuyên sâu hẳn sẽ tìm thấy nhiều thú vị ở bài tứ tuyệt này. Một nhà nghiên cứu văn học đã rất có lý khi viết rằng: “ Dù trong bài thơ không có từ sáng nào, nhưng ta vẫn cảm thấy tràn ngập ánh sáng”. Bài thơ đọc theo nguyên tác có một âm vang vừa trang trọng vừa thanh quý. Nhân dịp Tết nguyên tiêu (Tết Rằm Tháng Giêng ) năm Tân Mão, chúng ta hãy cùng đến với vẻ đẹp của bài thơ qua lời bình của tác giả Thư Trai.

NGUYÊN TIÊU (RẰM THÁNG GIÊNG) – HỒ CHÍ MINH

    Những nhà ngữ âm học chuyên sâu hẳn sẽ tìm thấy nhiều thú vị ở bài tứ tuyệt này. Một nhà nghiên cứu văn học đã rất có lý khi viết rằng: “ Dù trong bài thơ không có từ sáng nào, nhưng ta vẫn cảm thấy tràn ngập ánh sáng”. Bài thơ đọc theo nguyên tác có một âm vang vừa trang trọng vừa thanh quý. Nhân dịp Tết nguyên tiêu (Tết Rằm Tháng Giêng ) năm Tân Mão,  chúng ta hãy cùng  đến với vẻ đẹp của bài thơ qua lời bình của tác giả Thư Trai.
Phiên âm:

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

1948

Dịch nghĩa:
Đêm rằm tháng giêng

Đêm nay, rằm tháng riêng, trăng vừa tròn,
Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xanh.
Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn bạc việc quân,
Nửa đêm trở về, ánh trăng đầy thuyền.

1948

Dịch thơ:
Rằm tháng giêng

Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

XUÂN THỦY dịch


Trăng xưa ngời sáng với xuân này

(Lời bình của Thư Trai)

     Cuối năm 1947, với ảo vọng “đánh nhanh thắng nhanh”, thực dân xâm lược Pháp mở những tr 2000 ận càn lớn vào chiến khu Việt Bắc, ngỡ có thể chớp nhoáng tiêu diệt bộ chỉ huy tối cao cuộc kháng chiến cứu nước của quân và dân ta.
Song, quân giặc đã phải chuốc lấy thất bại thảm hại… Đầu xuân 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc Hội nghị Trung ương mở rộng, vạch phương hướng và nhiệm vụ mới cho một giai đoạn phát triển của Cách mạng Việt Nam, chuẩn bị từng bước vững chắc để đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Nhà thơ Xuân Thủy kể lại: Sau cuộc họp ở chốn “yên ba thâm xứ”, Bác xuôi thuyền về nơi căn cứ. Nhân trăng sáng, cảnh đẹp, Bác cảm hứng đọc:
                                                                          Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
                                                                          Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên
                                                                          Rồi thêm hai câu nữa thành bài Nguyên tiêu.

Có người đề nghị Bác cho dịch ra tiếng Việt. Bác bảo: “Có Xuân Thủy đây, Xuân Thủy dịch đi”.
Sau một hồi suy nghĩ, Xuân Thủy đọc bản dịch.
Bác khen: “Dịch lưu loát, giữ được chất thơ, nhưng dòng thứ hai có ba chữ xuân hòa với nhau mà bản dịch chỉ có hai chữ xuân, thế là ý thì đủ mà chữ còn thiếu”…
Về sau, nhà thơ – dịch giả Xuân Thủy đưa thêm một chữ xuân nữa vào bản dịch như chúng ta đã biết.
Nhưng giữa ba chữ xuân trên cùng một dòng thơ và ba chữ xuân trên cả hai dòng là cả một khoảng cách không dễ gì thu ngắn lại. Sự lặp lại ở đây vừa chuyển tải nội dung vừa là điểm nhấn của hình thức nghệ thuật.
Bản dịch có được sự thanh thoát và độ biểu cảm khá nhuần nhuyễn. Nhất là một chữ ngân thêm vào ở dòng kết như một xuất thần của người dịch. Song, độ sâu sắc và những chi tiết hiện thực, vốn là đặc điểm của phong cách ngôn từ Hồ Chí Minh trong nguyên tác thì bản dịch đã không sao thể hiện hết được.
Với “yên ba thâm xứ”, tác giả vừa muốn gợi lại một không khí rất Đường thi trong thơ cổ lại vừa ghi khắc được màn sương mù dày đặc vùng cao những ngày mùa đông Việt Bắc hồi giữa thế kỷ trước.
Giữa dòng gần như chưa nói được điều gì. Chính trong màn sương huyền ảo và kín đáo đó những nhà cách mạng, trao đổi những điều có tính chất sống còn của Tổ quốc, của dân tộc. Câu thơ “Yên ba thân xứ đàm quân sự” khi đọc lên ta nghe mang một âm hưởng như có gì chùng xuống. Những từ xứ, sự gợi lên sự trầm khuất. Nhưng ngoài ra, ở ba dòng còn lại:
                                                                   Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
                                                                   Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên
                                                                      và
                                                                   Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

với những từ nguyên, viên, thiên, thuyền là những âm vang tạo cho âm hưởng câu thơ nét lạc quan, tươi sáng.
Câu thơ cuối Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền với thanh huyền ở vần thuyền kết bài gợi cho ta một không gian thật bát ngát, cũng là dư vang cho cả bài thơ. Nhà thơ trở về trên một con thuyền đầy trăng. Thật là thơ mộng. Như bao nhiêu bậc thi nhân lớn của truyền thống thơ phương Đông.
Cảm hứng của Nguyên tiêu là cảm hứng của niềm vui, hạnh phúc, tin tưởng và hy vọng. Trong cuộc đời đầy thử thách của tác giả, những khoảnh khắc như thế này thật quý giá. Nhất là lại đêm Nguyên tiêu và vầng trăng Nguyên tiêu bao giờ cũng gợi lên những tình cảm thật thiêng liêng trong tâm 2000 thức phương Đông, tâm thức Việt Nam. Dù ta biết trăng và thơ vẫn luôn song hành trong suốt cuộc đời Người. Nhưng ở bài thơ này vẫn có một điều gì thật xúc động.
Bài thơ vừa có được vẻ đẹp cổ điển mẫu mực vừa mang hơi thở ấm áp của thời đại. Mà đây lại là thời đại bão táp cách mạng. Ta thấy hiện lên rất đẹp cái tôi trữ tình của tác giả – Người mà sự hòa hợp hoàn hảo đã được thi sĩ – Phêlich Pita Rôđrighêt – gợi lên trong mấy dòng hết sức cô đọng:
                                                                                            Bởi vì Người là Chủ tịch Hồ Chí Minh
                                                                                            Nhà thơ Hồ Chí Minh
                                                                                            Người nông dân Việt Nam trầm tĩnh Hồ Chí Minh…

Bài thơ chỉ được viết trong khoảnh khắc. Nhưng khoảnh khắc đã trở thành vĩnh cửu. Và, từ một câu thơ khác của Bác cũng viết ở Việt Bắc thuở ấy, Trăng xưa, hạc cũ với xuân này, trong ta cũng chợt thoáng lên niềm xúc động nghĩ rằng: Trăng xưa ngời sáng với xuân này.

Theo Tạp chí Thơ

                                                                                                          Biên tập : Trần Thủy

Nguồn: thcsduulau.pgdviettri.edu.vn
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 288
Hôm qua : 282
Tháng 10 : 4.405
Năm 2019 : 32.467